Đô thị loại 1 là gì? Danh Sách Và Tiêu Chí Theo Luật Mới Nhất

Đô thị loại 1

Đô thị loại 1, hay đô thị loại I, là đô thị trung tâm quốc gia, đứng sau đô thị loại đặc biệt. Từ ngày 01/01/2026, Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15 áp dụng hệ thống phân loại gồm 4 loại đô thị: đặc biệt, I, II và III. Tính đến ngày 28/08/2026, Việt Nam có 7 đô thị loại I theo cách tính, gồm các địa phương được xác định là loại I theo cơ chế chuyển tiếp hoặc được công nhận đạt tiêu chí đô thị loại I. Các số liệu 19-25 là thuộc hệ thống cũ . Các số 4, 5, 6 hoặc 7 phản ánh những mốc pháp lý khác nhau trong năm 2026.

Để làm rõ hơn các vấn đề có liên quan, bài viết lần lượt nêu chi tiết khái niệm đô thị loại 1; 4 loại đô thị hiện hành; mốc pháp lý; danh sách; tiêu chí; sự khác biệt với thành phố trực thuộc Trung ương; và các nơi chuyển từ loại 1 cũ sang loại 2.

Đô thị loại 1 là gì? 

Đô thị loại 1 hay đô thị loại I là cùng một khái niệm, dùng để chỉ đô thị trung tâm quốc gia, có vai trò, vị trí và chức năng trung tâm tổng hợp của quốc gia. Định nghĩa này căn cứ theo Điều 3 Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. 

Nhưng nếu hiểu theo cách thông thường, thì “trung tâm tổng hợp của quốc gia” là đô thị có nhiều chức năng đầu mối cùng lúc — bao gồm kinh tế, giao thông, thương mại, dịch vụ công, giáo dục, y tế và văn hóa — với sức hút và sức ảnh hưởng vượt ra khỏi phạm vi một tỉnh, có thể lan tỏa đến vùng hoặc cả nước. Cách diễn giải này hoàn toàn phù hợp với vai trò trung tâm quốc gia của đô thị loại I, mặc dù không phải trích xuất nguyên văn câu chữ trong văn bản Nghị quyết. 

Để được công nhận là đô thị loại I, trình tự lần lượt là UBND cấp tỉnh lập hồ sơ và gửi đi sau khi HĐND cấp tỉnh thông qua đề án; Bộ Xây dựng thành lập Hội đồng thẩm định liên ngành để đánh giá, chấm điểm và đề nghị Bộ trưởng quyết định nếu đô thị đáp ứng điều kiện. Về thẩm quyền, Bộ trưởng Bộ Xây dựng quyết định công nhận đô thị loại 1. Và thẩm quyền này áp dụng cho việc công nhận đô thị loại 1 nói chung, không phụ thuộc vào việc đô thị thuộc tỉnh hay thành phố trực thuộc Trung ương. Vậy thì đô thị loại I nằm ở đâu trong hệ thống 4 loại đô thị hiện hành?

4 Loại đô thị theo Nghị Quyết 111/2025

Hệ thống phân loại đô thị của Việt Nam, tính từ ngày 01/01/2026, chuyển từ 6 loại xuống 4 loại: đô thị loại đặc biệt, loại I, II và III. Đô thị loại IV và V không còn là cấp bậc phân loại độc lập. Theo điều khoản chuyển tiếp của Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15, đô thị loại IV, V, cùng thị xã và thị trấn trước sắp xếp chưa được công nhận loại đô thị, được xác định là đô thị loại III.

Loại đô thịVai trò theo NQ 111/2025Ví dụThay đổi so với trước
Đặc biệtThủ đô, trung tâm tổng hợp cấp quốc gia & quốc tế, giữ vai trò đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hộiHà Nội, TP.Hồ Chí MinhKhông tổ chức phân loại lại
Loại ITrung tâm quốc gia, chức năng tổng hợpHải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Cần ThơTiếp tục được xác định là loại I theo chuyển tiếp
Loại IITrung tâm tỉnh, thành phố hoặc vùng liên tỉnh, chức năng tổng hợp hoặc chuyên ngànhTP Thủ Đức; các đô thị loại I cũ ngoài 4 thành phố nêu trênGộp từ loại I cũ còn lại, loại II và loại III cũ
Loại IIITrung tâm tiểu vùng, chức năng tổng hợp hoặc chuyên ngành của tiểu vùngĐô thị loại IV, V cũ; thị xã và thị trấn chưa được công nhận trước sắp xếpLoại IV và V không còn là cấp riêng

Đính chính pháp lý

Từ ngày 01/01/2026, Nghị quyết 1210/2016/UBTVQH13 về phân loại đô thị — đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị quyết 26/2022/UBTVQH15 — hết hiệu lực theo khoản 2 Điều 14 Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15 để lấy làm căn cứ pháp lý hiện hành phân loại hoặc công nhận loại đô thị.

Việc rút gọn hệ thống từ 6 xuống còn 4 loại diễn ra trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Hà Nội và TP.HCM vẫn là đô thị loại đặc biệt; Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15 phân loại đô thị để tổ chức, quản lý và phát triển hệ thống đô thị quốc gia, vùng, tỉnh, mà không tổ chức đánh giá phân loại lại theo phạm vi toàn thành phố đối với hai đô thị này.

Các mốc pháp lý đã thay đổi danh sách đô thị loại 1

Số lượng đô thị loại I, theo cách tính, gồm các địa phương được công nhận đạt tiêu chí đô thị loại I, đã tăng từ 4 lên 5, rồi 6 và 7 chỉ trong năm 2026. Kể từ Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15 có hiệu lực, các danh sách trên Internet có thể cho kết quả khác nhau vì mỗi nguồn chốt dữ liệu ở một thời điểm; một con số từng đúng ở thời điểm khi đăng đã không còn phản ánh tình trạng pháp lý sau các quyết định công nhận tiếp theo.

NgàyVăn bảnĐổi cái gì
24/12/2025 hiệu lực 01/01/2026Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15Hệ thống phân loại chuyển từ 6 xuống 4: đặc biệt, I, II và III. Theo điều khoản chuyển tiếp, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Cần Thơ tiếp tục được xác định là đô thị loại I.
22/01/2026Nghị định 35/2026/NĐ-CPQuy định chi tiết một số điều của Nghị quyết 111, gồm trình tự, thủ tục, hồ sơ, thẩm định và công nhận đô thị; nghị định không tự làm thay đổi số lượng đô thị loại I.
16/04/2026Quyết định 502/QĐ-BXDCông nhận tỉnh Đồng Nai đạt tiêu chí đô thị loại I, nâng số đô thị đạt tiêu chí loại I từ 4 lên 5. 
01/06/2026Quyết định 836/QĐ-BXDPhê duyệt Điều chỉnh quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050. Phụ lục I nêu danh mục đô thị đặc biệt và loại I dự kiến đến năm 2030, không phải danh sách hiện hành để chốt số lượng tại 01/06/2026.
26/06/2026Quyết định 1026/QĐ-BXDCông nhận tỉnh Quảng Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I; quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký, nâng tổng số đô thị loại I lên 6.
28/07/2026Quyết định 1315/QĐ-BXDCông nhận tỉnh Bắc Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I, nâng con số đô thị loại I lên 7.

Dựa theo trục thời gian này, con số 4 phù hợp từ 01/01/2026 đến 15/04/2026; 5 phù hợp từ 16/04 đến 25/06; 6 phù hợp từ 26/06 đến 27/07; và 7 phù hợp kể từ 28/07/2026, nếu không có quyết định công nhận mới làm thay đổi danh sách sau đó. Vì vậy, không nhất thiết nhận định sai hay đúng ở các nguồn, mà quan trọng là con số ở nguồn đó đang phản ánh mốc pháp lý nào.

Thêm một lưu ý nữa là Nghị định 35/2026/NĐ-CP không làm tăng hay giảm số lượng đô thị loại I. Nghị định chỉ quy định thủ tục để địa phương lập hồ sơ, được thẩm định và được Bộ trưởng Bộ Xây dựng quyết định công nhận nếu đáp ứng đủ mọi điều kiện; do đó, con số 7 vẫn có thể thay đổi nếu có quyết định công nhận mới.

Danh sách đô thị loại 1 hiện nay

Việt Nam hiện tại có 7 đô thị loại I, gồm các địa phương được xác định là đô thị loại I theo cơ chế chuyển tiếp và được Bộ trưởng Bộ Xây dựng công nhận đạt tiêu chí đô thị loại I. Đó là 4 thành phố trực thuộc Trung ương - Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng và Cần Thơ + 3 tỉnh - Đồng Nai, Quảng Ninh và Bắc Ninh. Hà Nội và TP.HCM là đô thị loại đặc biệt, không thuộc nhóm loại I.

Dữ liệu chốt đến 28/8/2026 

Đô thị/ địa phươngCấp hành chính tại ngày chốtCăn cứ xác định hoặc công nhậnNgàyGhi chú (tỉnh sáp nhập)
Hải PhòngThành phố trực thuộc Trung ươngNghị quyết 111/2025/UBTVQH1501/01/2026Sáp nhập với Hải Dương (2025)
HuếThành phố trực thuộc Trung ươngNghị quyết 111/2025/UBTVQH1501/01/2026Nguyên tỉnh Thừa Thiên Huế, lên TP trực thuộc TW từ cuối năm 2024
Đà NẵngThành phố trực thuộc Trung ươngNghị quyết 111/2025/UBTVQH1501/01/2026Sáp nhập với Quảng Nam (2025)
Cần ThơThành phố trực thuộc Trung ươngNghị quyết 111/2025/UBTVQH1501/01/2026Sáp nhập với Hậu Giang, Sóc Trăng (2025)
Đồng NaiTỉnhQuyết định 502/QĐ-BXD16/04/2026Sáp nhập với Bình Phước (2025)
Quảng NinhTỉnhQuyết định 1026/QĐ-BXD26/06/2026Giữ nguyên địa giới tỉnh, không sáp nhập
Bắc NinhTỉnhQuyết định 1315/QĐ-BXD28/07/2026Sáp nhập với Bắc Giang (2025)

Danh sách trên cho thấy đô thị loại I không chỉ có thể là thành phố trực thuộc Trung ương theo cơ chế hiện hành mà cũng có thể được công nhận trên phạm vi rộng hơn như tỉnh chẳng hạn. Trong năm 2026, Bộ trưởng Bộ Xây dựng công nhận Quảng Ninh và Bắc Ninh đã đạt tiêu chí đô thị loại I, lần lượt theo Quyết định 1026/QĐ-BXD (ngày 26/06/2026) và Quyết định 1315/QĐ-BXD (ngày 28/07/2026). 

Cả hai vẫn là tỉnh tính đến ngày 28/8/2026. Trước đó, ngày 24/08/2026, Quốc hội thông qua hai Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh và Bắc Ninh trực thuộc Trung ương, nhưng phải chờ đến 01/9/2026 (Quảng Ninh) và 20/09/2026 (Bắc Ninh) mới có hiệu lực.

Phân biệt đô thị loại 1 và thành phố trực thuộc Trung ương

Khái niệm đô thị loại I và thành phố trực thuộc Trung ương khác nhau về bản chất, thẩm quyền và loại văn bản. Cụm “đô thị loại I trực thuộc Trung ương” thường được dùng gộp, nhưng về pháp lý là hai việc khác nhau: đô thị loại I là loại đô thị được công nhận dựa trên quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng, còn thành phố trực thuộc Trung ương là đơn vị hành chính cấp tỉnh, được Quốc hội thành lập bằng nghị quyết.

Tiêu chíĐô thị loại IThành phố trực thuộc Trung ương
Bản chấtLoại đô thị theo pháp luật về phân loại đô thịĐơn vị hành chính cấp tỉnh
Cơ quan quyết địnhBộ trưởng Bộ Xây dựngQuốc hội
Loại văn bảnQuyết định công nhậnNghị quyết thành lập
Căn cứNghị quyết 111/2025/UBTVQH15 và Nghị định 35/2026/NĐ-CPLuật tổ chức chính quyền địa phương, Nghị quyết 112/2025/UBTVQH15, Nghị quyết thành lập riêng của Quốc hội 

Khi gặp số liệu về “đô thị loại I” hoặc “thành phố trực thuộc Trung ương”, cần xem nguồn đang đếm theo phân loại đô thị hay theo cấp hành chính; hai con số không nhất thiết trùng nhau. Và con số 7 đô thị loại I tính đến 28/8/2026 là đúng với công nhận của các quyết định hiện hành. 

Và hãy nhớ cả hai không phải là hai tên gọi thay thế cho nhau. Việc một địa phương được Bộ trưởng Bộ Xây dựng công nhận đạt tiêu chí đô thị loại I cho biết địa phương đó đáp ứng khung đánh giá về vai trò, quy mô, mức độ đô thị hóa, hạ tầng và tổ chức không gian. Nếu muốn thành lập thành phố trực thuộc Trung ương, thì cần có quyết định tổ chức một đơn vị hành chính cấp tỉnh do Quốc hội ban hành bằng Nghị quyết.

Tiêu chí công nhận đô thị loại 1

Đô thị loại I được đánh giá theo 15 tiêu chuẩn thuộc 3 nhóm tiêu chí: vai trò, vị trí và điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, mức độ đô thị hóa và trình độ phát triển hạ tầng cùng tổ chức không gian đô thị. Các tiêu chuẩn này được quy định tại Phụ lục I ban hành kèm Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15.

Nhóm tiêu chíSố tiêu chuẩnNội dung nổi bật
Vai trò, vị trí và điều kiện phát triển kinh tế -  xã hội6Có khu chức năng mang vai trò cấp quốc gia hoặc quốc tế; thu nhập, tốc độ tăng trưởng GRDP và thu hút đầu tư thuộc nhóm 10 địa phương dẫn đầu; thuộc nhóm cân đối về ngân sách Trung ương.
Mức độ đô thị hoá4Đáp ứng ngưỡng về dân số đô thị và tỷ lệ đô thị hóa; tổng dân số các đô thị loại II đạt mức quy định; ít nhất 50% phường đạt trình độ phát triển đô thị loại II. 
Trình độ phát triển hạ tầng và tổ chức không gian đô thị5Có vai trò đầu mối giao thông, tỷ lệ vận tải hành khách công cộng đạt ngưỡng; có công trình hoặc khu đô thị đoạt giải thưởng; đáp ứng điều kiện đô thị thông minh hoặc thích ứng khí hậu; hoàn thành nhiệm vụ nông thôn mới.

Muốn được công nhận đô thị loại I, địa phương phải đáp ứng các tiêu chuẩn về vai trò, mức độ đô thị hóa và nhóm hạ tầng. Việc xem xét không dựa trên lợi thế đơn lẻ. Địa phương phải đồng thời thể hiện vai trò trung tâm quốc gia, mức độ đô thị hóa phù hợp và năng lực hạ tầng đáp ứng yêu cầu theo khung pháp luật hiện hành, quy định tại Phụ lục I của Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15.

Và việc một địa phương có thể đạt được hết các tiêu chí đô thị loại I cũng không đồng nghĩa với việc địa phương đó tự động trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Công nhận đô thị loại I là do Bộ trưởng Bộ Xây dựng quyết định theo hồ sơ và kết quả thẩm định để phân loại đô thị đó; còn việc thành lập thành phố trực thuộc Trung ương là thẩm quyền của Quốc hội. Vậy thì những thành phố từng nằm trong danh sách đô thị loại I theo hệ thống cũ đã được xếp ở đâu?

20 thành phố thuộc tỉnh chuyển thành đô thị loại 2

Từ ngày 01/01/2026, 20 thành phố thuộc tỉnh từng được công nhận là đô thị loại I được xác định tương đương đô thị loại II theo khoản 2 Điều 15 Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15. Đây là cơ chế chuyển tiếp khi hệ thống phân loại chuyển từ 6 xuống 4 loại, không phải kết quả đánh giá hay kết luận các đô thị này suy giảm chất lượng.

VùngThành phố thuộc tỉnh từng là đô thị loại I
Miền Bắc và Bắc Trung BộThái Nguyên, Việt Trì, Hạ Long, Bắc Ninh, Hải Dương, Thanh Hóa, Vinh, Hoa Lư
Miền Trung và Tây NguyênNha Trang, Quy Nhơn, Buôn Ma Thuột, Pleiku, Đà Lạt
Miền NamVũng Tàu, Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Mỹ Tho, Long Xuyên, Rạch Giá, Phú Quốc

Đây là chuyển tiếp, không phải “tụt hạng”. Việc xác định loại đô thị theo Nghị quyết 111 không tự nó là quyết định thành lập, giải thể hay điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính. Cùng nhóm chuyển tiếp loại II còn có TP Thủ Đức và khu vực các phường thuộc phạm vi các quận trước khi sắp xếp. Đô thị loại IV, V, cùng thị xã và thị trấn chưa được công nhận là đô thị trước khi sắp xếp, được xác định là đô thị loại III.

Một địa danh có thể xuất hiện ở cả hai phạm vi khác nhau. Hạ Long, TP Bắc Ninh và Hải Dương (đô thị loại I theo hệ thống cũ) có mặt trong danh sách trên với tư cách là thành phố thuộc tỉnh. Sau sắp xếp hành chính, Hạ Long nằm trong phạm vi tỉnh Quảng Ninh và TP Bắc Ninh nằm trong phạm vi tỉnh Bắc Ninh; hai tỉnh này lần lượt được công nhận đạt tiêu chí đô thị loại I năm 2026. Hải Dương nằm trong phạm vi thành phố Hải Phòng sau sắp xếp; Hải Phòng tiếp tục được xác định là đô thị loại I theo cơ chế chuyển tiếp. 

Vì vậy, thành phố trước đây có thể được xác định là đô thị loại II, trong khi khu vực địa lý của nó đồng thời thuộc phạm vi một đô thị loại I lớn hơn. Phạm vi công nhận với Bắc Ninh là toàn bộ địa giới hành chính tỉnh.

Peter Hoàng
Nhà sáng lập Rentapartment Agency
Peter Hoàng có 12 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực bất động sản cho người nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Peter bắt đầu từ một cộng đồng nhỏ, gồm một nhóm người nước ngoài đến từ nhiều quốc gia, họ chia sẻ kinh nghiệm hữu ích về thuê nhà và cuộc sống tại Việt Nam. Đến năm 2018, Peter Hoàng thành lập Rentapartment Agency với mong muốn giúp cho người nước ngoài tại Việt Nam thuê nhà dễ dàng và minh bạch hơn.
Nội Dung Chính: